Hoavan Nguyen Blog

My writing blog: Thoughts of the day, Nghĩ vắn trong ngày, My opinions on everyday life, Ngôn ngữ: English & Vietnamese language

6/17/26

Về "Nền Dân Chủ Mỹ"

Travel Beach

 Nghĩ vắn trong ngày: Về “Nền Dân Chủ ở Mỹ” (Democracy in America).

 

Nguyễn Văn Hóa

-----------------------

(Bài viết này không thể gọi là “nghĩ vắn” được, vì ban ngày tôi bận không đủ thời giờ để viết, phải thức ngủ gần hai đêm để viết. Do đó, có những sơ xuất là chuyện đương nhiên. Chân thành cáo lỗi trước.  –bổ sung và edited lần đầu: Apvril 07, 2018.)

-------------------------------------------------------------------------

·      Vài lời về một ‘danh vị’

 

Nói về ‘Nền Dân chủ ở Mỹ’ là tôi nói về cuốn ‘Democracy in America’ của Alexis De Tocqueville. Tôi nhớ đã có lần nghe một chương trình ‘Giải ảo’ trên Youtube của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa và nhà báo Đ.Q. Anh Thái phụ trách; ông Nghĩa có đề cập đến tầm quan trọng của cuốn sách ‘Democracy in America’ (2 volumes) và khuyến cáo mọi người nên đọc.

(Trước khi bàn tiếp, tôi mở ngoặc ở đây, ‘gạch đít’ từ kinh-tế-gia để nhấn mạnh: Tôi không gọi ông NXN là một kinh tế gia dựa theo dư luận của đám đông, hay cách xưng tụng của một số nhà báo người Việt. Tôi gọi ông là một kinh tế gia theo nhận thức của riêng tôi, chủ quan. Vì chủ quan nên tôi không quan tâm đến những đánh giá tôi gọi ‘danh vị, học vị’ đó đúng hay sai. Tôi cũng không quan niệm kinh tế gia là một nhà ‘kinh bang tế thế’ theo nghĩa của Tàu, bởi lẽ một kinh tế gia chưa chắc đã mang lại cho chính họ một đời sống giàu sang, sung túc, huống gì là cho thiên hạ (?). Kinh tế gia, trước hết là một người có kiến thức vững chắc, sâu rộng mọi vấn đề liên quan với môn Kinh Tế học như: chính trị, lịch sử, triết học, khoa học, văn học, và nhất là văn hóa… Cho nên, một kinh tế gia phải có tầm nhìn chiến lược toàn cầu. Nếu họ chỉ được đào tạo (hoặc tự học hỏi) duy nhất về kinh tế thì người ta chỉ nên gọi họ là một ‘chuyên gia’ (expert) về tài chánh, ngân hàng, kế toán v.v…

Dĩ nhiên, khi nghe-nhìn những chương trình tương tự (như mục ‘giải ảo’) trên màn hình cyberspace, tôi biết họ có pre-arrangements (sửa soạn trước), và phối hợp với kỹ thuật của media. Điều cốt lõi nằm ở nội dung của người trả lời, giải thích… là người ta nói về cái gì, và nói như thế nào mới có thể ‘lượng giá’ họ đúng nghĩa là một kinh-tế-gia hay không. Từ nhận thức đó, tôi ‘đánh giá’ ông NXN có tư cách để được gọi là một ‘kinh tế gia’, dù tôi không hề biết ông có những bằng cấp gì (!).

Tôi đồng ý với ông về quan điểm nêu trên, và nhớ mình có đọc cuốn sách đó, vì nó có trong tủ sách tôi đã ‘cho đi’; sách đã cũ mèm, và nhớ là đã mua ở thư viện Palo Alto (trong những dịp sách on-sale) với giá có 50xu Mỹ.

Bây giờ là thời đại Internet toàn cầu, nên các bạn có thể đọc trọn bộ cuốn sách ấy trên một số mạng lưới mà không cần phải tốn một xu nào cả, nếu chịu khó bỏ thời giờ và biết cách tìm kiếm (‘search’).

 

                                                *

 

·      Vài dòng về Alexis De Tocqueville và ‘Democracy in America’

 

Ấn bản Anh ngữ đầu tiên của ‘Democracy in America’ được dịch bởi luật sư Henry Reeve, với lời tựa và ghi chú nguyên thủy của John C. Spencer. Sách được xuất bản ở New York năm 1838.

Ấn bản mới năm 1945, được biên tập bởi Knoft bao gồm hai cuốn (Vol. 1, 434 trang. Vol. 2, 401 trang, A new edition, edited by Knoft. 1945. $6.00)

–Trong bài điểm sách của giáo sư Ludwig Marcuse của lần xuất bản này (ngày 01/12/1945 -tính ra là đúng 3 tháng sau ngày chấm dứt Thế Chiến 2, đăng lại trên tạp chí Commentary (của người Do thái chủ trương)), ông viết:

 

“… Cuốn một, ‘Về Nền Dân Chủ ở Mỹ’ (De la Démocratie en Amérique) xuất hiện năm 1831, cuốn hai năm 1840. Một lần nữa, tác phẩm cổ điển này được lại được xuất hiện dưới một ấn bản mới được ‘biên tập’ với hàng trăm trang giới thiệu của giáo sư Philip Bradley (đại học Queens College). Harold J. Laski viết một lời giới thiệu ngắn, “Có thể cho rằng, đây là một tác phẩm vĩ đại nhất viết về một quốc gia này bởi công dân của một nước khác.” Người ta còn có thể quy chiếu về sự xứng đáng của nó nhiều hơn nữa. Một công trình phân tích bậc nhất về một xã hội hiện đại, trước Marx.”

 

 “…Alexis De Tocqueville là một nhà quý tộc Pháp. Ông nội và người dì của ông bị chặt đầu trong Cách mạng Pháp 1789. Sau khi chế độ của Napoleon sụp đổ, cha ông được cất nhắc làm một viên chức chính phủ khi chế độ cực-bảo-thủ Bourbon (1) trở lại nắm chính quyền. De Tocqueville được bộ trưởng Nội vụ Pháp cử ông du Mỹ để khảo sát hệ thống nhà tù ở đây vào năm 1831 (nhưng ông phải tự bỏ tiền túi để chi phí).

“Thành quả sau 9 tháng du khảo của Alexis là hai cuốn sách: Hệ thống nhà tù ở Hiệp Chủng Quốc và sự áp dụng cho nước Pháp (Du systeme pénitentiaire aux États Unis et son application en France). Cuốn thứ hai, Về Nền Dân Chủ ở Mỹ (De la Démocratie en Amérique/ -người Mỹ nói gọn là: Democracy in America.)

“Cuốn sách của De Tocqueville ‘’bắn thẳng’’ một thông điệp cho nước Pháp và toàn thể châu Âu. Ở đó, các chế độ được cai trị bởi bọn quý tộc (aristocracy) thường cho rằng ‘’chế độ cai trị được gọi là bởi người dân do dân thật sự chỉ là chế độ cai trị bởi một đám thường dân (có thể hiểu là một bọn ‘du thử du thực’, bọn ma đầu, lưu manh chính trị). –Hãy nhìn vào nước Mỹ! Cả một khối quần chúng, thợ thuyền, người lao động đang náo loạn không ngừng nghỉ dưới chế độ trưởng giả của Louis Philippe, để nói rằng: dân chủ không phải là một giấc mơ, để trang trí, mà chính là một hiện tượng quá thông thường và sáng chói. –Hãy nhìn vào nước Mỹ! Trong khi bọn quý tộc (ở Âu châu -tôi thêm) ‘tự tạo’ những thứ ‘vũ khí’ để chống lại chủ nghĩa tự do, thì những kẻ tự do/ (cấp tiến) dùng nó trở lại để chống những kẻ phản động…’’ (2)

 

Tocqueville tin tưởng rằng chính Thanh giáo (Puritans -những người theo đạo Phản thệ Cải cách Anh (là một cuộc cách mạng tôn giáo ở Anh vào các thế kỷ 16, 17 nhằm thanh lọc định chế độc tôn về tôn giáo của Công giáo La mã) đã thiết lập thành một nguyên tắc chủ quyền của người dân (thí dụ như ‘the Fundamental Orders’ ở bang Connecticut’). Cuộc Cách mạng Mỹ sau đó đã ‘đại chúng hóa’ nguyên tắc này, theo sau Nghị định Hiến Pháp (Constituiton Convention) năm 1787 và nó đã triển khai thành những định chế thực thi ước vọng của người dân.

Trong khi De Tocqueville đề cập nhiều về trọng điểm của Hiếp Pháp Mỹ, ông còn tin tưởng ‘sự trương nở’ (the mores) -hay nói khác ‘lề thói của đầu óc’ (‘habits of mind’) của người dân Mỹ giữ một vai trò nổi bật hơn nữa nhằm bảo vệ sự tự do. Nó bao gồm các yếu tố sau đây:

*Nền Dân chủ ở quận, hạt (Township democracy)/ *Luật pháp và các tình huống (Mores, laws, and circumstances)/ *Sự độc tài của đa số (Tyranny of majority)/ *Tôn giáo và niềm tin (Religion and beliefts)/ *Chủ nghĩa cá nhân (hay Nhân vị)/ *Gia đình (Family)/ *Các hiệp hội (Associations)/ *Hiểu đúng đắn về ‘quyền tư lợi’/ tư hữu  (Self-interest Rightly understood)/ *Chủ nghĩa duy vật (vật chất) (Materialism) etc…

 

·      Vai trò của đạo đức tôn giáo trong sự phát triển một quốc gia

 

Hành trình ở Mỹ của A. De Tocqueville bắt đầu từ vùng Montreal (tiếp cận với biên giới Canada) rồi xuôi Nam, các thị trấn, phố thị, làng mạc dọc theo bờ biển Đại Tây dương như Buffalo, Albany, Boston, Newport, New York City, Philadelphia, Norfolk, Columbia, Montgomery, Mobile, New Orleans (cực nam); rồi hướng lên tây bắc gồm: Memphis, Nashville, Cincinnati, Washington (DC), Pittsburg, Detroit, Green Bay, Sault Sainte Marie, ngoại trừ vùng Missouri Territory mênh mông kéo dài đến bờ biển phía tây còn là vùng chưa được khai phá.

 

Tôi nhớ một đoạn, A. De Tocqueville mô tả, ghi chép nhân dịp vào thăm viếng một gia đình nông dân (không còn nhớ tên vùng, nhưng đoán là các vùng ở phía bắc, vì ở phía nam là các nông trại lớn trồng cây bông vải còn duy trì chế độ nô lệ) không thể có ‘một gia đình nông dân’. Những gia đình nông dân này, sau một ngày làm việc đồng áng mệt nhọc, cha - con trở về dưới mái nhà gia đình; người mẹ đã dọn sẵn thức ăn phủ phê trên bàn (rau - cải - trái cây tự trồng lấy, thịt gia súc được nuôi quanh vườn nhà rất rộng). Cùng ngồi quanh bàn, mọi người cúi đầu, một người tự xướng lên những lời cầu nguyện cảm tạ Ơn trên/ Thượng đế/ Chúa đã cho họ một ngày lao động bình an và no đủ. Xong, mọi người làm dấu thánh và bắt đầu ăn, cười nói và trò chuyện. Ngày chủ nhật nghỉ ngơi thì họ cùng nhau đi ‘nhóm’ ở nhà thờ trong vùng. Đó là khung cảnh gia đình ấm cúng hòa quyện vào niềm tin tôn giáo, tinh thần đạo đức và sự sung mãn của vật chất nhờ vào mồ hôi lao động của người nông dân Mỹ vào các thập niên đầu của thế kỷ 19.

De Tocqueville đã có nhận xét chung qua các hình ảnh này bằng một đoạn văn như sau:

“Các giáo phái tôn giáo hiện hữu ở trên đất Mỹ thì vô số. Họ khác nhau về cung cách thờ phượng giữa con người và Đấng Tạo Hóa, nhưng họ hoàn toàn một lòng tôn trọng nhau giữa người với người. Mỗi giáo phái ngưỡng mộ, thờ kính một Thượng đế/ Chúa trời (Deity) trong thể cách riêng biệt, nhưng mọi người đều tôn thờ chung một đạo lý nhân danh Thiên Chúa.”

Đó là thứ đạo đức phổ biến, cùng đồng thuận (common ground). Liệu chúng ta có thể đem so sánh cái ‘đạo đức đồng thuận’ ấy với đạo đức của Phật giáo VN (theo Giáo sư Cao Huy Thuần): “…Đạo Phật của tục ngữ phong dao là đạo Phật của đạo đức, là đạo đức Phật giáo - đạo đức chứ không phải là những điều răn khô khan, cứng nhắc. Và chính bởi vì đó là đạo đức, và bởi vì Phật giáo đi quá sâu vào nếp sống dân gian, nên nó hòa lẫn vào luân lý bình dân, quyện nhau làm một, khó phân biệt đâu là luân lý đâu là Phật giáo. Chính vì vậy mà công việc sao lục quả là khó khăn, ai muốn bắt bẻ, rất dễ bới bèo ra bọ.

“Đạo đức đó trước hết là hạnh từ bi, từ bi được hiểu như đạo đức, không phải như một triết lý rất cao siêu của Phật giáo. Trong đầu óc dân gian, đạo Phật đồng nghĩa với từ bi, đức hạnh số một được tôn sùng. Chu Mạnh Trinh đã chắp tay tán thán như vậy sau khi vãn cảnh chùa Hương:

Lần tràng hạt niệm nam mô Phật 
Cửa từ bi công đức xiết là bao…”
 [? (3)]

Có lẽ đó là một cảm thức rất riêng của một người có sẵn chất thơ trong hồn, sau khi viếng cảnh chùa mà lòng rung động (hốt nhiên ‘ngộ đạo’), chưa nói tới gốc tích Chu Mạnh Trinh (CMT) vốn là một nho sĩ, làm quan tri phủ ở Lý Nhân, tỉnh Hà Nội (đời vua Thành Thái thứ tư). Một ông quan nổi tiếng vì có lần phạt đánh roi một tu sĩ người Pháp (đạo Công giáo La Mã) cậy thế lộng hành. Mặt khác, CMT là một nho sĩ khác với số đông hủ nho (vốn không ưa Phật Giáo), ông ảnh hưởng nhiều tinh thần Tam giáo (mà nói đúng với sự thật lịch sử thì ‘Tam giáo đồng nguyên’ là một sáng tạo của Nho Tàu, chứ không phải đặc thù của Nho Việt); cho nên tinh thần Phật giáo (hài hòa) đã lãng đãng trong người ông. Hai câu đầu (mưỡu) trong bài ‘Hương Sơn phong cảnh ca’ đã nói lên tinh thần đó:

‘Đàn thông phách suối vang lừng                                          Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe Kinh’. (4)

Đúng là một cảnh thần tiên thoát tục, ‘tiếng thông reo’ mà tác giả nghe như tiếng đàn; ‘tiếng suối róc rách’ mà chừng như tiếng phách. Đến nỗi cá dưới khe phải ngừng bơi để ‘lắng’ tiếng kệ; chim trong rừng phải ngừng hót để ‘nghe’ lời Kinh Phật. Nhưng, nếu một ông quan nho sĩ thấm nhuần tinh thần Tam giáo và có tài thơ như thế, thì trái lại một câu ‘đố’ ca dao thông tục trong dân gian (không biết là của nho sĩ ẩn danh hay của một anh nông dân nào đó):

‘Bắc thang lên hỏi ‘ông trời’, chứ thuở tạo thiên lập địa ‘ông trời’ ai sinh ra?’. Tự hỏi mình, hỏi người, biết tất cả đều chịu thua rồi tự cười diễu cợt. Đó là tinh thần ngạo mạn, nếu không muốn nói là ‘xỏ lá, mách qué’. Tinh thần đó sẽ dị ứng với bất cứ niềm tin vào tôn giáo nào, kể cả tinh thần thờ kính ông bà, tiên tổ. Tinh thần đó càng không phải là ‘chủ đạo’ của tính khoa học. Chính vì vậy, khó có một tính chất ‘đạo đức đồng thuận’ (common ground) trong con người của xã hội VN từ xưa tới nay. A. De Tocqueville sau khi khảo sát vai trò của đạo đức tôn giáo trong xã hội Mỹ, ông viết: ‘Tự do không thể được tạo dựng mà không có đạo đức, cũng như không thể có đạo đức nếu không có đức tin.’

*

 

·      Tại sao chúng ta nên đọc ‘Democracy in America’?

                                                                 

Tôi xin mượn lời của học giả Clay S. Jenkinson để vắn tắt vài ý chính. Jenkinson nhận định có 5 lý do để cần phải đọc Nền Dân Chủ ở Mỹ:

 

“Trước hết và quan trọng nhất là nó làm bạn thích thú để đọc.

Thứ hai, Tocqueville viết về nước Mỹ như một kẻ ngoài cuộc, ông lập đi lập lại nhiều lần trong bản văn nghiên cứu của mình -kẻ ngoại cuộc quan sát sự việc mà những kẻ ở trong cuộc (sống trong lòng văn hóa) của chính nó thường ‘không nhìn thấy’ (có nghĩa là thất bại) [tinh thần này có thể ví von với câu tục ngữ của người Việt xưa, ‘Bụt nhà không thiêng’].

Thứ ba, Tocqueville cũng thường có sai lầm, nhưng ông ta lại rất thích thú về sự sai lầm đó --đặc biệt một đôi khi –những tiên đoán của ông được chứng minh là do thành kiến hoặc sự hiểu nhầm.

Thứ tư, Nền Dân Chủ ở Mỹ là ‘bộ trích yếu’ về nhận thức tuyệt hảo, phân tích các tập quán và thể chế - tổ chức của nước Mỹ.

Cuối cùng là, điều không thể khi đọc Nền Dân Chủ ở Mỹ mà bạn không thấy cảm giác mạnh về sự mất mát (nào đó).” (5)

 

·      Vài lời ngoài đề:

 

Cuộc Cách Mạng Mỹ khởi sự từ 1765 – 1783. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của John Trumbull vào gần cuối tháng 6/1776 coi như cuộc CM ấy đã thắng lợi. Nhưng kết quả quan trọng nhất là sự ra đời của Hiến Pháp năm 1787, tạo dựng một chính phủ liên bang mạnh gồm ba bộ phận riêng biệt nhưng hỗ trợ cho nhau: hành pháp (executive), một nền tư pháp quốc gia (a national judiciary) và lập pháp –Quốc Hội (gồm hai viện Thượng và Hạ nghị viện).

Gần nửa thế kỷ sau đó, Alexis De Toqueville đặt chân lên mãnh đất này, quan sát các sinh hoạt chính trị dân chủ, đời sống xã hội, thành quả phát triển kinh tế của nó, đã nhìn ra 9 yếu tố ưu điểm cốt lõi như tôi đã nêu ở trên.

Vì sao giờ này còn có người Mỹ muốn ‘đạp đổ’ giá trị tối thượng của Hiến Pháp đó. Kết quả của cuộc bầu cử tổng thống tháng 11/2016 đã đưa tới sự thất bại của phe Dân Chủ. Tôi là một thành viên (công dân nửa vời) của đất nước Mỹ, có khuynh hướng chính trị với đảng Dân Chủ, nhưng tôi phản đối lối hành xử ‘tháu cáy, chơi xấu’ của một số chính trị gia Dân Chủ vì sự thất bại của họ. Những gì đã xảy ra trong hơn một năm qua, thế là đủ thấy rõ mặt nhau rồi, nên dừng lại. Tôi xin mượn lời của một ‘tân’ tiến sĩ Jonathan Ashbach thuộc Đại học Hillsdale College (6) nhận xét về bước mở đầu bối cảnh ‘náo loạn’ chính trị đó:

 

“…Liệu những người ‘bảo thủ’ cần phải xấu hỗ vì thắng cử qua phương tiện của ‘The Electoral College’ (đại biểu cử tri) mà họ không thắng trong cuộc tranh cử dân chủ bằng trực tiếp của cử tri đi bầu? –Không.

Chỉ có sự phàn nàn đáng chú ý là phải san bằng (chống lại) hệ thống đại biểu cử tri đoàn của Hiến Pháp vì đôi khi nó ngăn trở luật của đa số. Song điều giản đơn thì luật của đa số không phải là nguyên tắc của các Nhà Lập Quốc cũng chẳng phải là nguyên tắc về đạo lý. Những nhà bảo thủ nên tự hào đã đi theo nguyên tắc pháp trị (law rules), dù có thế nào đi nữa, phải theo đuổi cho được những gì của đạo lý tốt lành.”

Gần 200 năm trước, một người trẻ tuổi tài cao từ nước Pháp đến du khảo về thành quả của cách mạng và hiến pháp đó cũng đã nhìn thấy khuyết điểm của ‘luật đa số’ là đưa tới sự độc tài của một nhóm người (7). Độc tài luôn luôn là một sự tệ hại của chế độ chính trị. Hay nói khác, nó man rợ như chế độ cai trị man rợ của VN hiện nay.

Nguyễn Văn Hóa

Thursday, April 5, 2018

 

Chú thích:

(1) --Bourbon: là một dòng họ ‘quý tộc’ thay nhau cai trị nước Pháp từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 (1589-1792), và nửa đầu thế kỷ 19 (1815-1848). Dân gian có câu ngạn ngữ ‘bọn này’ “chẳng học cái gì cả, nên chẳng có gì để quên.” (They learn nothing and forget nothing)

(2) A Preview of Democracy in America by Ludwig Marcuse.

(3) Giáo sư Cao Huy Thuần: Phật Giáo VN qua phong dao, tục ngữ ** trích từ web phatuvietnam.net)

(4) Clay Straus Jenkinson là một học giả về nhân văn, tác giả nhiều cuốn sách và là một nhà giáo dục học. Ông hiện là giám đốc của Học viện ‘The Dakota Institute’, phụ trách chương trình phát thanh ‘The Jefferson Hour’. (–phụ chú của tôi)

 

(5) Five reasons to read Tocqueville’s Democracy in America -source: xroads.virginia.edu/):

 

(6) Jonathan Ashbach là một sinh viên tiến sĩ về Chính trị học (2016) tại Đại học Hillsdale, bang Virginia. Giờ này có thể ông đã là một tiến sĩ (hoặc giáo sư?) về môn Hiến Pháp hoặc Chính trị. Vài dòng về trường ĐH. Hillsdale: Hillsdale là một trường đại học tư thành lập năm 1844 (chỉ sau 4 năm khi cuốn Democracy in America (volume 2) xuất hiện), có đủ các majors khác nhau: khoa học, toán học và nhân văn…, trong đó đăc biệt có major chuyên về Hiến Pháp.

--source: thefederalist.com (/2016/12/30/electoral-college-saves-us-mob-rule-democracy) 

(7) –Giải thích thêm về cụm chữ “Tyranny of the majority” của Tocqueville:

“…Qua ‘Democracy in America’ cho thấy, Tocqueville tin rằng ‘sự bình đẳng’ là tư tưởng xã hội và chính trị vĩ đại trong kỷ nguyên của ông, và ông nghĩ xã hội Hoa Kỳ là một thí dụ tiến bộ nhất về sự bình đẳng trong thực tiễn.

Tocqueville ngưỡng mộ chủ nghĩa cá nhân của Mỹ song cũng cảnh báo rằng một xã hội của những bản thể cá nhân có thể dễ dàng bị phân tán li ti (atomized) trong một hợp thể nghịch lý khi, “mỗi một công dân, bị đồng hóa với những kẻ khác, bản thể đó hoàn toàn bị đánh mất trong đám đông.”

Ông nghĩ rằng một xã hội của những cá nhân riêng lẻ thiếu một cấu trúc xã hội môi giới –chẳng hạn như hệ thống tôn ti trật tự truyền thống đã cấu tạo –làm một quan hệ nối kết trung gian hòa giải với nhà nước. Kết quả có thể biến thành một thứ dân chủ ‘độc tài của đa số’ (tyranny of the majority) mà quyền của cá nhân (the individual rights) đã bị tổn hại…”  

-------------- ------------------------------ ----------------------------

Các bạn có thể tải xuống ở đây: Bản dịch của Henry Reeve, ấn bản điện tử của đại học Penn State University, 2002, gồm Vol.1 và Vol.2

file:///D:/TAILIEU_18_02/Alexis-de-Tocqueville-Democracy-in-America.pdf

 


Tưởng niệm Cụ Đào Đăng Vỹ

Travel Beach Nghĩ vắn đầu hôm: Một vài nhân vật cần nhắc nhỡ để luôn giữ lòng kính trọng, và… Nguyễn Văn Hóa ------------------------ Người chị và anh kế tôi từ vùng Hannover -miền bắc nước Đức đến Mỹ trước tôi một năm. Từ đảo Galang, tôi đến Mỹ sau đó và chúng tôi gặp lại nhau, do người anh cả bảo trợ. Gia đình anh cả tôi đến Mỹ từ biến cố 30/4/75, bà vợ được tiếp tục làm ngân hàng BOA (từng có chi nhánh ở Sài Gòn), còn anh tôi phải đi học một nghề nào đó để đi làm. Ban đầu họ mua được căn nhà nhỏ ở vùng Rodeo, về sau đổi sang căn nhà rộng rãi hơn ở vùng Hercules, thuộc hạt Contra Costa. Ở đây tôi gặp một vài người bạn của anh tôi, tính khí rất dễ mến, thí dụ như anh Sỹ (nguyên là Hải quân trung tá của quân đội VNCH). Anh là người vui tính và dễ cười (anh đã qua đời mấy năm trước.). Hercules là một thị trấn nhỏ, tiện đường đến đại học Berkeley, đi vào thành phố Cựu Kim Sơn (San Francisco) qua chiếc cầu Bay Bridge, nhưng lại không thích hợp cho những di dân mới đến, nên hai anh em tôi, người chị và đứa con trai quyết định move về vùng San Jose cho tiện lợi hơn nhiều mặt, trong đó có chuyện phải đi tìm một nghề nào đó để học. Ở đây, tôi được gặp người anh vợ (cũ) của tôi -ông BN. Ông BN có mối giao tình với hai người con của cụ Đào Đăng Vỹ, có lẽ từ đó, người anh kế tôi và tôi được làm quen với gia đình cụ Đào Đăng Vỹ (ĐĐV). Cụ ĐĐV thì dân Huế có đi học như chúng tôi ai cũng biết tiếng với bộ Từ điển bách khoa tiếng Việt đầu tiên, hai cuốn từ điển Pháp-Việt/Việt-Pháp được biên soạn rất công phu và giá trị. Anh kế tôi, khi còn ở Đức, ông có sáng tác nhiều bản nhạc diễn tả về tâm trạng của những người vượt biển ly hương lánh nạn cộng sản. Lời và nhạc thống thiết, nêu bật lên tâm cảnh của những người rời bỏ quê hương, không phải vì lý do vật chất. Tôi còn nhớ, vài bãn nhạc như ‘’Thuyền nhân tâm khúc, v.v..’’ dưới bút hiệu là Nguyễn Cung Thánh, thường được tờ Nhân Quyền của tiến sĩ Âu Dương Thệ cho in ở bìa sau của mỗi số báo, rất trang trọng. Tôi không thích anh tôi lấy bút hiệu này: Thứ nhất, tại sao lại là ‘’Thánh’’, thứ hai có thể làm cho nhiều người hiểu nhầm là có bà con gì đó với ông ‘’Cung Tiến” chăng (!?). Thật lòng, ông không có một ý định gì về chuyện đó, nhưng bởi là một người thích Triết (vào quân đội rồi mà ông vẫn cố lấy cho được văn bằng cử nhân giáo khoa rồi cao học Triết Tây ở đại học Văn Khoa SG. Ai từng là sinh viên ở đại học VKSG đều biết lấy hai được hai văn bằng đó mà về ‘’giáo khoa’’ không phải là chuyện dễ. Các giáo sư như Lê Thành Trị, Trần Văn Toàn, Nguyễn Văn Trung… chắc hẳn sẽ xác nhận chuyện đó). Vì thế cho nên, cái gì thuộc về ông đều có ‘’mùi vị’’ triết học. Ông còn có một giọng hát rất tốt và khỏe. Thời gian đầu ở San Jose, ông hay đi hát cho những chương trình văn nghệ do võ sư Bảo Truyền thực hiện… Thi thoảng, tôi có bộc lộ với anh tôi về cái bút hiệu đó, và vì một lý do tự nhiên nào đó, sau này ông đổi tên là ‘’Nguyễn Tiến’’ (bỏ chữ Văn). Gia đình của cụ ĐĐV có hai người con trai rất dễ mến là hai anh ĐĐTK & ĐĐTH. Anh Khôi là một trong những kỹ sư đầu tiên người Việt làm cho hãng IBM, anh Hộ làm gì tôi không rõ. Ông bà cụ ĐĐV, hai anh Hộ & Khôi thương quý hai anh em tôi, nên hầu như bất cứ một buổi tiệc nào do gia đình tổ chức, anh em tôi đều được mời tham dự. Trong những lần họp mặt đó, anh tôi thường hát lại những bản nhạc do ông sáng tác. Hình như ai cũng thích và xúc động. Đặc biệt cụ V. thương anh em tôi ra mặt. Qua sự quen biết với gia đình cụ Vỹ, tôi còn học hỏi thêm nhiều điều về kiến thức của cụ, một kiến thức uyên thâm. Với một cái ‘’đầu’’ về nghiên cứu sử, tôi nghĩ cụ thuộc vào hàng lớp, thế hệ của Đào Duy Anh, Hải Triều (lý thuyết gia cộng sản thời đó, thân phụ của Nguyễn Khoa Điềm) v.v… và về phái nữ có lẽ thuộc thế hệ của nữ sĩ Đạm Phương, sư bà Diệu Huệ… Thập niên đầu của 1950, có lẽ ở Huế ai cũng nghe đến một scandal tình yêu của ‘’trai tài, gái sắc’’ của cụ ĐĐV -đó là người vợ sau và hiện tại của cụ. Tôi không dám lạm bàn thêm về chuyện ‘’riêng tư’’ này, vì tôi thuộc thế hệ hậu sinh quá xa. Tôi chỉ xin nêu một nhận xét: Hai anh H. & K. dù là anh em cùng cha khác mẹ nhưng hết sức thương yêu nhau. Đó là một đặc điểm không phải gia đình người Việt nào cũng có. Anh em tôi quý trọng vô cùng. Về phương diện tư tưởng, tôi nhận xét cụ ĐĐV là một người anti-communism không chỉ trên phương diện lý thuyết mà còn ở khía cạnh thực tế lịch sử (quốc tế & các xứ sở thuộc địa như VN). Rất tiếc, tôi không có cơ hội để được thụ nhận thêm về các kiến thức đó. Về sau, do tình cờ, tôi biết thêm là cụ bà ĐĐV có họ hàng bà con (có lẽ là chị em?) với ông Lê Văn Hảo. Dù đã qua đời, nhưng LVH là một nhân vật bị mang ‘’tiếng tăm’’ nhiều vì ‘’..Vào Tết Mậu Thân năm 1968, ông LVH ra vùng Giải phóng được cử làm Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Huế’’. Tôi không biết gì nhiều về ông LVH, nhưng đã đọc cuốn sách cũ mèm ‘’Hành trình vào Dân tộc học’’ của ông. Cuốn sách chỉ là một mớ ‘’lý thuyết trường ốc’’, không có tính chất sáng tạo gì nhiều, nếu đem so với “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN’’ của cố nhà văn Bình Nguyên Lộc, cuốn sau còn có giá trị về nghiên cứu, sáng tạo hơn nhiều. Tôi đọc mấy dòng trong cuốn Hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, kể lại cuộc gặp gỡ giữa ông (và vài người khác) với ông LVH khi ông nhạc sĩ này từ Sài Gòn ra Huế thăm, đã thấy rõ sự khinh thị ra mặt, mặc dù về ‘’nhân cách của PD’’ lúc còn sống ra sao thì không cần phải bàn thêm nữa. Về sau này, cũng xuất phát từ cái ‘’đầu thích nghiên cứu sử’’, tôi còn biết thêm ông LVH lại có quan hệ thân bằng quyến thuộc gì đó với một ông ‘’cấp tá cảnh sát đặc tình’’ gì gì đó nữa. Các thập niên 1940-50, phần lớn các sinh viên học sinh ở miền Nam ít có ai chọn Anh văn là một môn học sinh ngữ chính, cho nên có ai đó chịu khó học tiếng Anh thì vào thời kỳ Mỹ đổ bộ lên đất miền Nam về sau (1965) dễ có cơ hội để thăng tiến. Có nhiều khi tôi muốn tìm gặp để làm quen các ông như Trần An Bài (từng là giảng viên Học viện Cảnh sát Quốc gia ở Thủ Đức), Nguyễn Khắc Bình, Trang Sĩ Tấn (cấp tư lệnh về CS) để hỏi cho ra lẽ, thế nào là ‘’cảnh sát đặc tình’’ (có thể hiểu như một đơn vị ‘Special Intelligent Police Team/ Unit/ Station’?) được không? Hay đó chỉ là một nhiệm vụ vớ vẩn như làm phiên dịch các bản tin tình báo từ tiếng Việt sang Anh ngữ để trình cho thượng cấp nước ngoài, mà nhiều khi người làm phiên dịch (theo tôi nghĩ chỉ cần trình độ hoàn tất English For Today 12 + học thuộc lòng cuốn English Idioms + cuốn tự điển Anh Việt/ Việt Anh kèm theo là đủ!?.) Nhưng, theo nhà nghiên cứu lịch sử + quân sử Bùi Anh Trinh thì những tin tức tình báo thời đó thường được mua lại từ những ‘nguồn mối lái’ bán tin. Có khi những bản tin chỉ làm lợi cho kẻ thù và gây thiệt hại cho lực lượng chống cộng, đâu đáng gì để hãnh diện!? Thù ghét chế độ NĐD chỉ vì bị ‘’tống’’ ra khỏi Huế, lên vùng khỉ ho cò gáy; giá như được trọng dụng và thăng tiến thì liệu sau này có dám chống không?. Trong tuần lễ đầu của tháng 4 năm 2006, NĐX qua Mỹ (San Jose) mang theo một cuốn sách in trong nước, ký tên tác giả LXN, có tặng cho tôi một cuốn, dày chừng 70 trang. Tôi đọc nó trong vòng 30 phút thì nhận ra đây là ‘’công trình nghiên cứu’’ lá cải, toàn là kiến thức từ báo Thằng Mõ, tôi ném vào thùng rác ngay sau đó. (Lá Vàng hay La Vang thì cũng thế thôi. Người ta có thể sát hại một tổng thống và cả dòng họ đi nữa, nhưng người ta không thể đập phá, thay đổi một công trình xây dựng mang tính thờ phượng tôn giáo. Bằng chứng: ngay cả chế độ bất lương, tàn bạo của cộng sản cũng đã không dám làm.) Giữa tháng 8, 2008, tôi từ VN trở về Mỹ trong trạng thái tinh thần không được thoải mái chút nào thì có cú phôn của anh chàng làm nghề construction dạo họ Hà mời đến nhà với lời nhấn mạnh ‘’có cả anh hùng ‘a jobless stuntman’’’ nữa. Tôi đặt ngay một dấu hỏi trong đầu : Hơn một thập niên, tôi không hề liên lạc với anh chàng này, vì sao anh ta biết số phôn tay của tôi trong lúc tôi từ VN về. Sau đó, hỏi ra mới biết anh tôi (vốn thiệt lòng thiệt dạ) đã cho y. Tôi có ngay linh cảm ‘’có vấn đề’’. Quả nhiên, mấy tay này đã dùng ‘’nhà thơ nhà thẩn’’ Nguyễn Lập Đông từ Houston, Texas đi qua, ‘’gài’’ tôi một câu hỏi rất ngu xuẩn (đúng ra người có thể trả lời câu hỏi đó là Hồng Phấn -một đàn em của Hồng Quang (chủ quản cơ quan từ thiện, báo chí Giaodiem Foundation), chứ không phải tôi. Tôi suy ra, tất cả đã được đạo diễn từ anh ‘’cảnh sát đặc tình’’ -một thứ ‘’Nhạc Bất Quần’’ tân thời, nhưng ngu xuẩn về chính trị; chỉ vì mục đích muốn mượn tay tôi để trả thù, trả đũa dùm cho em mình (một người em từng được anh khen tặng: ‘’Trong phòng ngủ em tôi khi nào cũng có cái quần xì-líp của đàn bà’’!). Một nhân cách mang tính ‘’thù vặt’’, làm sao có thể làm chính trị, việc lớn -dù cho việc lớn đó chỉ nhắm tới sự dọn đường cho em mình, cho con cháu dòng họ?. ………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………. --Mục đích của tôi khi ngồi viết những dòng chữ này (bắt đầu từ 1 giờ sáng), chỉ để ghi nhớ mối thâm tình và lòng kính trọng đến vong linh của ông bà cụ ĐĐV; các anh ĐĐTK., ĐĐTH., anh Lê Thành Nam (bạn của anh tôi, anh là một dược sĩ, trong một chuyến vượt biển vợ con đều tử nạn) một người anh với tính khí rất dễ mến, nghệ sĩ, can đảm sống một mình trong bao nhiêu năm với sự cô đơn vĩ đại. --Để ghi nhớ anh Đào Đăng Trọng Giao -giáo sư một trường đại học nào đó ở Pháp, vào năm 1988 anh từ Pháp sang thăm gia đình, anh hỏi ra số phôn và muốn gặp tôi. Lúc ấy tôi đang share một căn phòng condo trên đường Aguacate Court (nơi từng làm ‘’trụ sở’’ cho tờ báo Thanh Niên Hành Động). Lần đầu tiên anh gặp tôi, chưa hề quen biết, hôm đó anh mang theo một chai Martell thượng hảo hạng mời tôi. Tôi quá cảm động, hai anh em ngồi tâm tình và ‘’cưa’’ hết chai rượu cho đến gần sáng. Anh đòi ngủ lại trên chiếc sofa cũ kỷ. Sáng hôm sau, anh thức dậy, chào từ giã vội vàng làm tôi không kịp mời anh đi ăn sáng hay pha cho anh một ly cà phê. Từ đó, tôi không hề gặp lại anh, nhưng những kỷ niệm đó, làm sao quên! Nguyễn văn hóa 3/10/2018 5:14 AM

Cố nhạc sĩ Cung Trầm Tưởng qua đời

Travel Beach Bản tin do “Hội Ái Hữu Không Quân VNCH’’ gửi qua email (Hoavannguyen) : Tin Buồn: Lá Vàng “Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng” Vừa Bay Theo Gió “Mùa Thu Paris!” (Một Trong Những Thi Nhạc Phẩm Nổi Tiếng Nhất Về Mùa Thu!) Chúng tôi vừa nhận được tin buồn, từ Niên Trưởng KQ Võ Ý: Xin được thông báo đến Quý Nt, Quý Ch KQ và Quý Độc Giả, Thính Giả, yêu thơ, yêu nhạc: Thi Sĩ KQ CUNG TRẦM TƯỞNG Ông là tác giả “Một Hành Trình Thơ – 1948-2018” và nhiều người biết Ông nhất, qua bài thơ “Mùa Thu Paris” đã được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, vừa từ biệt dương thế hôm nay! Chủ Nhật, ngày 9 tháng 10 năm 2022, lúc 4 giờ 27 chiều, giờ địa phương. Được biết, cách đây hơn tháng, Ông bị té sưng mặt mày, phải nhập viện. Hơn tuần qua, Ông phải mổ bàng quang. Ca mổ bình an. Nhưng sau đó, Ông bị viêm phế quản, phải mang ống thở, liệt não. Sáng nay, gia đình quyết định rút ống! Tin buồn này, làm biết bao nhiêu Chiến Hữu, Bạn bè, những người thương mến, chỉ biết nhìn lá vàng rơi, trong không khí se lạnh Mùa Thu, hát lại lời thơ, tiễn Thi Sĩ bay theo gió về…Trời! “Lên xe tiễn Em (Ông) đi Trời mùa thu Paris Chưa bao giờ buồn thế!…” Ít Nét Tiểu Sử Về Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng Cung Trầm Tưởng (sinh 1932), tên thật là Cung Thức Cần, là một nhà thơ hiện đại Việt Nam, cuối đời định cư ở Hoa Kỳ. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi (1947), ông bắt đầu làm thơ, và có tập thơ đầu tay tên là Sóng Đầu Dòng. Năm 1949, ông rời Hà Nội vào Sài Gòn, học tiếp trung học tại trường Chasseloup Laubat (Sau có tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn, Sài Gòn) Năm 1952, sau một năm học đại học, Ông sang Pháp du học, tại Trường Kỹ sư không quân ở Salon-de-Provence. Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước, phục vụ trong Quân chủng Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong năm này, hai bài thơ của ông là "Mùa thu Paris" và "Vô đề" (thơ trường thiên), xuất hiện trong tuyển tập Đất Đứng, của nhóm Quan Điểm (gồm Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng), và đã làm người đọc, thích thú, chú ý nhất, nổi nhất trong thời gian này! Năm 1958, ông đứng ra chủ trương tờ Văn Nghệ Mới và cộng tác thường xuyên cho các tạp chí: Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ thuật, Văn, Khởi hành... Trong khoảng thời gian này, Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc một số bài thơ của Ông, đó là những bài "Mùa thu Paris", "Chưa bao giờ buồn thế", "Bên ni bên nớ", "Khoác kín", "Kiếp sau", "Về đây"...tổng cộng trong 13 bài thơ trong tập Tình Ca của Ông, thì 6 bài Phạm Duy chọn phổ nhạc! Đủ thấy thơ Ông, mọi người yêu thích như thế nào! Năm 1962, ông sang Hoa Kỳ học về khí tượng, đậu Tiến sĩ khí tượng học tại Đại học Saint Louis. Sau đó, ông trở về Sài Gòn, tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Không Quân, với cấp bực cuối cùng là Trung tá (1975). Dưới chế độ cộng sản, ông bị bắt đưa đi cải tạo 10 năm! trong 8 trại giam và thả về với thêm 3 năm quản chế. Năm 1993, ông sang Hoa Kỳ định cư, tại Minnesota. (Xứ 10 ngàn cái hồ!) Tác phẩm của Cung Trầm Tưởng đã in: •Tình ca (Nhà xuất bản. Công đàn, Sài Gòn, 1959) •Lục bát Cung Trầm Tưởng (Nhà xuất bản. Con đuông, Sài Gòn, 1970) •Lời viết hai tay (Nhà xuất bản. Imn, Bonn, 1994; thơ tù cải tạo) •Bài ca níu quan tài (tác giả tự xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ, 2001; thơ tù cải tạo) •Một hành trình thơ (Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương, Falls Church, Virginia, Hoa Kỳ, 2012) Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng Cũng Đã Một Lần Ra Mắt Thơ Tại San Jose. Tối thứ Sáu 18/6/99, vào lúc 6:30 pm tại Trung Tâm Văn Hoá 2296 Quimby Road, góc đường Capitol Expressway, nhà thơ Cung Trầm Tưaởng đã hội ngộ cùng giới yêu thơ thung lũng hoa vàng với tác phẩm mới của ông là Thơ Viết Hai Tay. Đây là lần đầu ông ra mắt tại San Jose. Hai bài thơ của ông là Tiễn Em và Mùa Thu Paris đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thập niên 60, tạo tên tuổi vang lừng và bài hát đó bây giờ vẫn còn nhiều người thưởng thức. Bối cảnh nước ngoài hoa lệ với tuyết rơi mùa đông, lá vàng mùa thu, một tình yêu lãng mạn thời tuổi trẻ pha chút gì văn minh của thủ đô Paris nước Pháp, đã gây xao xuyến cho những người thưởng thức văn nghệ ở trong nước thời đó. Sau 1975, thi sĩ bị ở tù Cộng Sản gần cả chục năm và theo lời của bạn bè chung tù, thì quan điểm làm thơ của Ông đã chuyển biến từ hoa mộng qua tranh đấu! chống cộng! Định cư ở tiểu bang Minnesota được mấy năm, ông vẫn tiếp tục sáng tác và cuối tuần này khách văn nghệ, sẽ nghe những vần thơ mới của ông. Một số thơ Cung Trầm Tưởng phổ nhạc cũng được hát trong buổi văn nghệ đặc biệt này. Kết: Theo nhà nghiên cứu T. Khuê, thì thơ Cung Trầm Tưởng thường có giọng buồn, man mác! Nhưng là giọng buồn nguyên thủy, gợi nỗi cô đơn hiện sinh, khi con người nhận thức lại chính mình!

Vài ghi nhận về bài phỏng vấn cố thi sĩ VVA của nhà văn LTH trên gio-o.

Travel Beach Ngẫm nghĩ về nhóm chữ “Bọn khuyển mã Giao Điểm” qua phỏng vấn nhà thơ, nhà tranh đấu nhân quyền Thi Vũ-Võ Văn Ái (do nhà văn Lê thị Huệ, chủ biên gio-o.com thực hiện) nguyễn văn hóa Tuần rồi (cuối tháng 11/2009), web Hội Tụ có link bài phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ (chủ biên mạng gio-o) phỏng vấn một nhân vật…với tựa đề rất “bắt” mắt với độc giả: Phỏng vấn…Lãnh tụ trí thức đấu tranh Nhân Quyền số Một ở hải ngoại: nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái. (phần 2) Với vai trò “một ngựa”, một thuyền, một “người lái” như tôi trên mạng lưới điện tử, hẳn tôi có quyền đăng bất cứ bài nào tôi muốn (trên các diễn đàn công cộng, hoặc nhận từ các email gửi đến), tôi viết bất cứ thứ gì tôi thích. Nhưng đấy không phải là một việc làm “vô tư”, ai cũng thấy. Cho nên, khi link (2) phần đầu của bài phỏng vấn ấy, hẳn là tôi phải đọc trước! Đây không phải là bài nhận xét về nội dung vấn-đáp của bài phỏng vấn, bởi có muốn nhận xét cũng không nên, vì toàn bài chưa được phổ biến trọn vẹn. Tôi đang làm công việc gọi là “trích ngang” vài điểm nhỏ trong bài phỏng vấn, chỉ vì nó có liên quan đến cái “danh” : Giao Điểm. Đứng ở quan điểm “cái tôi tự nhủ”, tôi có thể yên tâm để “bình an như vại” là không quan tâm, không đếm xỉa đến một vài “điểm nho nhỏ” trong cái lớn, cái “tổng quan” của bài phỏng vấn; nhưng với những thắc mắc về lãnh vực tri thức (nói xa hơn là trí thức, cũng được thôi.) thì tôi vướng mắt với nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” trong một đoạn trả lời của bài phỏng vấn như sau: “….Đấy, sức mạnh thực hữu và uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phát ra từ miệng các ông trùm Cộng sản. Có đâu như gần đây một vài Tăng sĩ cơ hội, Phật tử cơ hội ở Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu, Châu Úc bêu riếu Giáo hội chỉ còn có hai người là đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ ! Không có ai, trong nghĩa chẳng ra gì, mà sao cả đại Bộ Công An ở Hà Nội cho đến bọn khuyển mã Giao Điểm, rồi ba nhóm Phật giáo cơ hội Về Nguồn, Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại, Thân hữu Già Lam không ngớt chửi bới, bôi nhọ, vu hãm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại còn tiếm danh Giáo hội để làm tiền xây chùa và mong mỏi không bị Cộng đồng Người Việt Tị nạn hỏi thăm về việc thỏa hiệp hay đi đêm với Hà Nội của bọn này ?...” ( chữ đậm là nhấn mạnh của nvh.) Liệu tôi có nên nhắc lại về vai trò “chủ động” mạng lưới giaodiem.com kể từ tháng 4/2001 cho đến gần giữa năm 2006?, rồi sau đó tôi đã cho nó “tan vỡ” bằng các loạt bài đã có rất nhiều người đọc. Sau đó, “họ” đòi kiện tôi ta tòa xuất phát từ nhiều lý do, mà lý do tiên khởi là vì tôi đã “cứng cựa” không chuyển giao mạng lưới cho họ, vì: Từ cuối năm 2005 cho đến giữa năm 2006, tôi đã viết vài bài báo “phạm húy, phạm thượng” đến nhân vật Hồ Chí Minh, cộng với những bài links về “tố cáo” Mặt trận Hoàng Cơ Minh, một số bài kỵ húy với Giáo Hội PG nhà nước - Đảng Cộng Sản VN, thí dụ như: những trang web tưởng niệm cố Thượng Tọa Thích Thiện Minh (trong đó nặng nhất là bài báo đăng lại từ tạp chí Phật Giáo Việt Nam tố cáo cái chết của thầy Thiện Minh là do Võ Đình Cường) ; bài báo “Từ Ánh đuốc Quảng Đức…” của tôi đối nghịch với tinh thần của buổi hội thảo Phật Giáo VN trong thế kỷ 21 đang tổ chức tại TP/HCM và .v.v… Tất nhiên, trước đó còn đăng bài viết luận về “chính nghĩa, chính danh, hợp pháp” của tổ chức Giáo Hội PGVN Thống Nhất của Thích Nguyên Tường mà “bọn Giao Điểm” tin rằng “lạm bút danh” đó là của ông Võ Văn Ái. Nói nhiều hơn nữa, tôi nghĩ không cần thiết, vì tôi tin chính ngay bản thân ông Võ Văn Ái cũng biết rõ ngọn ngành của “biến cố” đó ra sao rồi. Khi “biến cố Nguyên Thiều” trong nước xảy ra, chính giaodiem.com “gánh vác” trên vai một trọng trách đã làm “lắng đọng” khả năng đưa tới sự xung đột làm tan rã “thế” còn lại của Giáo Hội P.G. Thống Nhất qua vai trò lãnh đạo của các danh tăng như các Ngài Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ v.v… - trong thế chủ động đạo diễn của thế lực Công an tôn giáo. Có người (chức sắc) trong tổ chức Giao Điểm như ông Phan Mạnh Lương (vào lúc đó là chủ tịch) đã chuyển lời (có lẽ) là từ một vài chức sắc trọng lượng hơn (thí dụ: (Bùi) Hồng Quang hay Hoàng Nguyên Nhuận..?) [*] cho rằng “tác giả Thích Nguyên Tường” chính là Võ Văn Ái. Nghe vậy, tôi lại bực mình thêm, vì tôi không hề quen biết ông Ái, và đăng một bài viết vì giá trị nội dung của một bài viết, chứ không phải bài viết ấy “phù hợp” hay “có vấn đề” với quan điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam về tôn giáo ! Ai không đồng ý cứ viết bài phản hồi. Viết không được là vì mình thiếu lương thiện và không đủ chính nghĩa trong lập luận phản biện. Nhưng, đăng bài viết của “tác giả Thích Nguyên Tường” không phải là đồng nghĩa với việc ủng hộ, bênh vực cho lập trường, hành động của ông Võ Văn Ái. Chẳng phải là, tôi cũng có viết một vài bài (trong quá khứ) chỉ trích việc ông Ái nhận tiền của NED – liên hệ đến Phong trào Tổng Lao Động Mỹ; và không ai –một công dân trí thức lại đứng trước diễn đàn Liên-Hiệp-Quốc cúi đầu để tố cáo, nói xấu về…"quốc gia" mình! -Tinh thần của sự “chỉ trích” ấy không thể nào trực tiếp từ sự “chỉ đạo” của Cộng Sản. Bây giờ, tôi xin nêu thắc mắc về nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” ? Có muốn “yêu” tiếng Việt từ lúc mới ra đời hay không, muốn hiểu tiếng Việt cho rõ ràng, tử tế…thì đàng nào cũng phải lôi tự điển Hán-Việt ra thôi. Trong vài cuốn tự điển Hán-Việt, Việt-Nôm-na, định nghĩa chung: “Khuyển mã” là “Chó và ngựa” : Chỉ lòng trung thành của kẻ dưới đối với người trên, với chủ. (Chó và ngựa là hai con vật nuôi trong nhà rất trung thành, rất mến chủ.) Chưa đủ, mượn chữ “chó” nói về người còn có nghĩa: Kẻ theo Nho học mà lòng dạ xấu xa, thí dụ: “Khuyển nho”; nhưng nếu chỉ một loại tay sai mang tính-độc-ác thì gọi là “Khuyển ưng”: Chó săn và chim ó (chim ó là loại chim săn bắt mồi.) Như trong Truyện Kiều: “Sửa sang buồm gió lèo mây, Khuyển ưng lại lựa một bầy ‘côn quang’ ” (“Côn quang”, có nghĩa là “côn đồ”: Bọn xấu xa hung dữ.) Xét ra thì ông Võ Văn Ái còn “nhẹ lời”, không thì ông sẽ dùng nhóm chữ này: “Bọn Khuyển ưng Giao Điểm”, bởi “ngựa” là con vật tương đối hiền lành, ngoan ngoãn, còn “chó” thì có giống loài chó dữ - chó hiền, khác nhau. Vậy, diễn nôm “Bọn Khuyển mã Giao Điểm” có nghĩa Giao Điểm là “bọn chó ngựa” –là một bọn tay sai, trung thành với chủ. Nhưng, “chủ” đây là ai? Ông Võ Văn Ái đã trả lời : “Hà Nội”. Ở trên, tôi đã nhắc lại sự “chỉ trích” việc làm của ông Ái của tôi còn mang ý nghĩa là, tôi đã vô tình đồng hóa địa danh “Hà Nội” với “Quốc Gia” ! Tôi xấu hổ dùm cho “quốc gia” vì “quốc gia” bị làm nhục là tâm cảm hay là thái độ chính trị? Có thể đó là “tâm cảm”, cũng có thể là cả hai. “Tâm cảm” là nói cái chung, khái niệm quốc gia chung, đất nước chung (xuất phát từ một tự ái dân tộc, sự tự trọng về dân tộc mình.). Nhưng, nếu đó là một thái độ chính trị, vấn đề phải được xét lại. Có phải thái độ chính trị ấy (của tôi trong 5 năm trước) phù hợp với hành động chính trị của tác giả Nguyễn Hữu Liêm (luật sư) hôm nay không? “Văn tức là người”, nên tôi xin soát xét lại những gì tác giả Nguyễn Hữu Liêm đã viết. Tôi tìm đọc lại trong cuốn sách “Dân Chủ Pháp Trị” (**) xuất bản cách nay 18 năm, trong đề mục “Chuyển tiếp từ Cộng sản đến Dân chủ bằng cơ chế Pháp luật”, Nguyễn Hữu Liêm viết : “…Cái mà người Cộng sản phải từ bỏ là sự tàn bạo và hệ quả vô lý của mô thức đấu tranh Leninism và Stalinism. Người Cộng Sản phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng bắt đầu để họ chuyển hóa trên phương diện ý thức chứ không phải là cách mạng bạo động để xóa bỏ làm lại, vì theo Gramsci không thể làm lại từ đầu được.” (**) Hiểu, người Cộng sản Việt Nam “phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng...” là định luật chính trị hay là một khái niệm của Triết học? Nếu đó chỉ là một khái niệm triết học thì quả là tư tưởng mơ hồ, vì “nền tảng tư sản” chưa hẳn là chỉ có trong Cơ Đốc Giáo (xin thêm: Công Giáo và Tin Lành). Không thiếu gì các trường hợp “chuyển biến” chính trị quốc gia không phải từ nền tảng Cơ Đốc Giáo, đó là chưa kể tính-chủ-quan này đối với “người chủ” (Chế độ) có chấp nhận hay không, dù rằng sự “chấp nhận” ấy sẽ “cứu vớt” cho sự tồn tại của chế độ. Quả thực là trên 300 trang của cuốn sách, tác giả đã dùng lý luận và biện giải để đưa tới một kết luận “hàm hồ” như thế. Nhưng, nếu đó là một định luật chính trị khả thể thì, như tác giả đi đến một khẳng định : “Cái mà người Cộng Sản Việt Nam phải công nhận bây giờ là xã hội chủ nghĩa không có tương lai cho nhân loại và dân tộc… Nghĩa là, yêu nước là phải từ bỏ xã hội chủ nghĩa. Lúc này và bây giờ.” (**) Nguyễn Hữu Liêm đã kết luận và khẳng định như thế ; đó là một “ý thức chính trị”, không thể chối cãi được. Gần hai chục năm sau, thực tại chính trị là chế độ ấy vẫn tồn tại mà không có “nền tảng tư sản Cơ-Đốc-Giáo” nào cả mà Cơ-Đốc-Giáo còn bị trấn áp một cách tinh vi hơn, và “xã hội chủ nghĩa” vẫn không hề được từ bỏ mà lại xuất hiện mNgẫm nghĩ về nhóm chữ “Bọn khuyển mã Giao Điểm” qua phỏng vấn nhà thơ, nhà tranh đấu nhân quyền Thi Vũ-Võ Văn Ái (do nhà văn Lê thị Huệ, chủ biên gio-o.com thực hiện) nguyễn văn hóa Tuần rồi (cuối tháng 11/2009), web Hội Tụ có link bài phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ (chủ biên mạng gio-o) phỏng vấn một nhân vật…với tựa đề rất “bắt” mắt với độc giả: Phỏng vấn…Lãnh tụ trí thức đấu tranh Nhân Quyền số Một ở hải ngoại: nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái. (phần 2) Với vai trò “một ngựa”, một thuyền, một “người lái” như tôi trên mạng lưới điện tử, hẳn tôi có quyền đăng bất cứ bài nào tôi muốn (trên các diễn đàn công cộng, hoặc nhận từ các email gửi đến), tôi viết bất cứ thứ gì tôi thích. Nhưng đấy không phải là một việc làm “vô tư”, ai cũng thấy. Cho nên, khi link (2) phần đầu của bài phỏng vấn ấy, hẳn là tôi phải đọc trước! Đây không phải là bài nhận xét về nội dung vấn-đáp của bài phỏng vấn, bởi có muốn nhận xét cũng không nên, vì toàn bài chưa được phổ biến trọn vẹn. Tôi đang làm công việc gọi là “trích ngang” vài điểm nhỏ trong bài phỏng vấn, chỉ vì nó có liên quan đến cái “danh” : Giao Điểm. Đứng ở quan điểm “cái tôi tự nhủ”, tôi có thể yên tâm để “bình an như vại” là không quan tâm, không đếm xỉa đến một vài “điểm nho nhỏ” trong cái lớn, cái “tổng quan” của bài phỏng vấn; nhưng với những thắc mắc về lãnh vực tri thức (nói xa hơn là trí thức, cũng được thôi.) thì tôi vướng mắt với nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” trong một đoạn trả lời của bài phỏng vấn như sau: “….Đấy, sức mạnh thực hữu và uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phát ra từ miệng các ông trùm Cộng sản. Có đâu như gần đây một vài Tăng sĩ cơ hội, Phật tử cơ hội ở Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu, Châu Úc bêu riếu Giáo hội chỉ còn có hai người là đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ ! Không có ai, trong nghĩa chẳng ra gì, mà sao cả đại Bộ Công An ở Hà Nội cho đến bọn khuyển mã Giao Điểm, rồi ba nhóm Phật giáo cơ hội Về Nguồn, Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại, Thân hữu Già Lam không ngớt chửi bới, bôi nhọ, vu hãm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại còn tiếm danh Giáo hội để làm tiền xây chùa và mong mỏi không bị Cộng đồng Người Việt Tị nạn hỏi thăm về việc thỏa hiệp hay đi đêm với Hà Nội của bọn này ?...” ( chữ đậm là nhấn mạnh của nvh.) Liệu tôi có nên nhắc lại về vai trò “chủ động” mạng lưới giaodiem.com kể từ tháng 4/2001 cho đến gần giữa năm 2006?, rồi sau đó tôi đã cho nó “tan vỡ” bằng các loạt bài đã có rất nhiều người đọc. Sau đó, “họ” đòi kiện tôi ta tòa xuất phát từ nhiều lý do, mà lý do tiên khởi là vì tôi đã “cứng cựa” không chuyển giao mạng lưới cho họ, vì: Từ cuối năm 2005 cho đến giữa năm 2006, tôi đã viết vài bài báo “phạm húy, phạm thượng” đến nhân vật Hồ Chí Minh, cộng với những bài links về “tố cáo” Mặt trận Hoàng Cơ Minh, một số bài kỵ húy với Giáo Hội PG nhà nước - Đảng Cộng Sản VN, thí dụ như: những trang web tưởng niệm cố Thượng Tọa Thích Thiện Minh (trong đó nặng nhất là bài báo đăng lại từ tạp chí Phật Giáo Việt Nam tố cáo cái chết của thầy Thiện Minh là do Võ Đình Cường) ; bài báo “Từ Ánh đuốc Quảng Đức…” của tôi đối nghịch với tinh thần của buổi hội thảo Phật Giáo VN trong thế kỷ 21 đang tổ chức tại TP/HCM và .v.v… Tất nhiên, trước đó còn đăng bài viết luận về “chính nghĩa, chính danh, hợp pháp” của tổ chức Giáo Hội PGVN Thống Nhất của Thích Nguyên Tường mà “bọn Giao Điểm” tin rằng “lạm bút danh” đó là của ông Võ Văn Ái. Nói nhiều hơn nữa, tôi nghĩ không cần thiết, vì tôi tin chính ngay bản thân ông Võ Văn Ái cũng biết rõ ngọn ngành của “biến cố” đó ra sao rồi. Khi “biến cố Nguyên Thiều” trong nước xảy ra, chính giaodiem.com “gánh vác” trên vai một trọng trách đã làm “lắng đọng” khả năng đưa tới sự xung đột làm tan rã “thế” còn lại của Giáo Hội P.G. Thống Nhất qua vai trò lãnh đạo của các danh tăng như các Ngài Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ v.v… - trong thế chủ động đạo diễn của thế lực Công an tôn giáo. Có người (chức sắc) trong tổ chức Giao Điểm như ông Phan Mạnh Lương (vào lúc đó là chủ tịch) đã chuyển lời (có lẽ) là từ một vài chức sắc trọng lượng hơn (thí dụ: (Bùi) Hồng Quang hay Hoàng Nguyên Nhuận..?) [*] cho rằng “tác giả Thích Nguyên Tường” chính là Võ Văn Ái. Nghe vậy, tôi lại bực mình thêm, vì tôi không hề quen biết ông Ái, và đăng một bài viết vì giá trị nội dung của một bài viết, chứ không phải bài viết ấy “phù hợp” hay “có vấn đề” với quan điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam về tôn giáo ! Ai không đồng ý cứ viết bài phản hồi. Viết không được là vì mình thiếu lương thiện và không đủ chính nghĩa trong lập luận phản biện. Nhưng, đăng bài viết của “tác giả Thích Nguyên Tường” không phải là đồng nghĩa với việc ủng hộ, bênh vực cho lập trường, hành động của ông Võ Văn Ái. Chẳng phải là, tôi cũng có viết một vài bài (trong quá khứ) chỉ trích việc ông Ái nhận tiền của NED – liên hệ đến Phong trào Tổng Lao Động Mỹ; và không ai –một công dân trí thức lại đứng trước diễn đàn Liên-Hiệp-Quốc cúi đầu để tố cáo, nói xấu về…"quốc gia" mình! -Tinh thần của sự “chỉ trích” ấy không thể nào trực tiếp từ sự “chỉ đạo” của Cộng Sản. Bây giờ, tôi xin nêu thắc mắc về nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” ? Có muốn “yêu” tiếng Việt từ lúc mới ra đời hay không, muốn hiểu tiếng Việt cho rõ ràng, tử tế…thì đàng nào cũng phải lôi tự điển Hán-Việt ra thôi. Trong vài cuốn tự điển Hán-Việt, Việt-Nôm-na, định nghĩa chung: “Khuyển mã” là “Chó và ngựa” : Chỉ lòng trung thành của kẻ dưới đối với người trên, với chủ. (Chó và ngựa là hai con vật nuôi trong nhà rất trung thành, rất mến chủ.) Chưa đủ, mượn chữ “chó” nói về người còn có nghĩa: Kẻ theo Nho học mà lòng dạ xấu xa, thí dụ: “Khuyển nho”; nhưng nếu chỉ một loại tay sai mang tính-độc-ác thì gọi là “Khuyển ưng”: Chó săn và chim ó (chim ó là loại chim săn bắt mồi.) Như trong Truyện Kiều: “Sửa sang buồm gió lèo mây, Khuyển ưng lại lựa một bầy ‘côn quang’ ” (“Côn quang”, có nghĩa là “côn đồ”: Bọn xấu xa hung dữ.) Xét ra thì ông Võ Văn Ái còn “nhẹ lời”, không thì ông sẽ dùng nhóm chữ này: “Bọn Khuyển ưng Giao Điểm”, bởi “ngựa” là con vật tương đối hiền lành, ngoan ngoãn, còn “chó” thì có giống loài chó dữ - chó hiền, khác nhau. Vậy, diễn nôm “Bọn Khuyển mã Giao Điểm” có nghĩa Giao Điểm là “bọn chó ngựa” –là một bọn tay sai, trung thành với chủ. Nhưng, “chủ” đây là ai? Ông Võ Văn Ái đã trả lời : “Hà Nội”. Ở trên, tôi đã nhắc lại sự “chỉ trích” việc làm của ông Ái của tôi còn mang ý nghĩa là, tôi đã vô tình đồng hóa địa danh “Hà Nội” với “Quốc Gia” ! Tôi xấu hổ dùm cho “quốc gia” vì “quốc gia” bị làm nhục là tâm cảm hay là thái độ chính trị? Có thể đó là “tâm cảm”, cũng có thể là cả hai. “Tâm cảm” là nói cái chung, khái niệm quốc gia chung, đất nước chung (xuất phát từ một tự ái dân tộc, sự tự trọng về dân tộc mình.). Nhưng, nếu đó là một thái độ chính trị, vấn đề phải được xét lại. Có phải thái độ chính trị ấy (của tôi trong 5 năm trước) phù hợp với hành động chính trị của tác giả Nguyễn Hữu Liêm (luật sư) hôm nay không? “Văn tức là người”, nên tôi xin soát xét lại những gì tác giả Nguyễn Hữu Liêm đã viết. Tôi tìm đọc lại trong cuốn sách “Dân Chủ Pháp Trị” (**) xuất bản cách nay 18 năm, trong đề mục “Chuyển tiếp từ Cộng sản đến Dân chủ bằng cơ chế Pháp luật”, Nguyễn Hữu Liêm viết : “…Cái mà người Cộng sản phải từ bỏ là sự tàn bạo và hệ quả vô lý của mô thức đấu tranh Leninism và Stalinism. Người Cộng Sản phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng bắt đầu để họ chuyển hóa trên phương diện ý thức chứ không phải là cách mạng bạo động để xóa bỏ làm lại, vì theo Gramsci không thể làm lại từ đầu được.” (**) Hiểu, người Cộng sản Việt Nam “phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng...” là định luật chính trị hay là một khái niệm của Triết học? Nếu đó chỉ là một khái niệm triết học thì quả là tư tưởng mơ hồ, vì “nền tảng tư sản” chưa hẳn là chỉ có trong Cơ Đốc Giáo (xin thêm: Công Giáo và Tin Lành). Không thiếu gì các trường hợp “chuyển biến” chính trị quốc gia không phải từ nền tảng Cơ Đốc Giáo, đó là chưa kể tính-chủ-quan này đối với “người chủ” (Chế độ) có chấp nhận hay không, dù rằng sự “chấp nhận” ấy sẽ “cứu vớt” cho sự tồn tại của chế độ. Quả thực là trên 300 trang của cuốn sách, tác giả đã dùng lý luận và biện giải để đưa tới một kết luận “hàm hồ” như thế. Nhưng, nếu đó là một định luật chính trị khả thể thì, như tác giả đi đến một khẳng định : “Cái mà người Cộng Sản Việt Nam phải công nhận bây giờ là xã hội chủ nghĩa không có tương lai cho nhân loại và dân tộc… Nghĩa là, yêu nước là phải từ bỏ xã hội chủ nghĩa. Lúc này và bây giờ.” (**) Nguyễn Hữu Liêm đã kết luận và khẳng định như thế ; đó là một “ý thức chính trị”, không thể chối cãi được. Gần hai chục năm sau, thực tại chính trị là chế độ ấy vẫn tồn tại mà không có “nền tảng tư sản Cơ-Đốc-Giáo” nào cả mà Cơ-Đốc-Giáo còn bị trấn áp một cách tinh vi hơn, và “xã hội chủ nghĩa” vẫn không hề được từ bỏ mà lại xuất hiện một giai cấp tư sản-đại tư sản cán bộ giàu có (nhờ vào ăn cắp, tham nhũng và làm ăn bất chính), nên từ thực tại đó, ta phải có một khẳng định chính trị khác : Họ (CSVN) không phải và không thể là những người yêu nước! Vậy là tôi có thể kết luận : “Hà Nội”, hay họ (Đảng Cộng Sản) không hề đồng nghĩa với “quốc gia”, cho nên tâm cảm về danh dự “quốc gia” của tôi trong việc “chỉ trích” ông Võ Văn Ái không đồng nghĩa với bênh vực “Hà Nội”. Từ một “áng” (***) ý thức chính trị rõ rệt của tác giả Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ trở thành “Nơi Hội nghị Việt kiều: một nỗi bình an” là một diễn biến “ý thức” bất thường, đi ngược với chiều tiến hóa của tư tưởng, hay nói một cách vẽ vời đó là “một sự phá sản của tinh thần triết học.” Liệu ông Hoàng Ngọc Tuấn đã nhìn thấy trước hơn ai hết về ý thức “bất thường” đó của tác giả Nguyễn Hữu Liêm?. Vì lẽ, ông là người viết phản hồi bài viết “Nơi Đại hội Việt kiều: một nỗi bình an” trên talawas blog sớm sũa và “mạnh” nhất (28/11/2009 lúc 12:31 sáng.) Ông Tuấn viết : “Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!” -Hoàng Ngọc-Tuấn (trích talawas-comments theo URL link.) Tôi không làm công việc khai thác nội dung ý kiến phản hồi trên, vịn vào từ nghĩa làm cho “tệ” hơn ý của tác giả, chỉ muốn viện dẫn chữ “thú” để có thể hiểu như là thái độ, việc làm mang tính “Khuyển mã” thôi. Song, từ một “áng” ý thức chính trị như Nguyễn Hữu Liêm đã thủ đắc, tôi không tin ông Liêm là một “khuyển mã” tự nguyện. Chỉ có thể hiểu cách khác là ông Liêm bị ảnh hưởng, thúc đẩy, khuyến cáo… đã đến lúc (như khái niệm "market timing" trong thị trường chứng khoán !) cần phải bộc lộ thái độ chính trị trước dư luận công cộng của một bậc thầy “khuyển mã” từ xa nào đó !?. Do đó, tôi không nghĩ ý kiến phản hồi của ông Hoàng Ngọc Tuấn mang tính cách “mạ lị” mà chỉ là một “phẩn nộ trí thức”, chỉ vì ông nắm được cái “áng” ý thức chính trị của Nguyễn Hữu Liêm quá rõ, qua các tác phẩm của ông Liêm đã viết. * * * Như trong một vài bài viết mới đây, tôi có kể lại về cuộc gặp gỡ với nhà văn Trần Kiêm Đoàn trong một quảng thời gian tôi còn ở trong nước. Trên đoạn đường cùng lái xe từ Sài Gòn ra Huế vào đầu tháng 5/2008, Trần Kiêm Đoàn có hỏi tôi “Ông có giấy mời tham dự Lễ Phật Giáo Vesak ở Hà Nội không?” Tôi đã nói láo với câu trả lời “có chứ!” cho “oai” vì nghe ông Đoàn khoe có nhận giấy mời từ VN gửi qua Mỹ. Còn tôi, tôi biết tôi đã bị công an chế độ “chơi gát” từ bài viết phạm thượng về Hồ Chí Minh sau khi được mời tham dự Đại Hội Phật Giáo toàn quốc cuối năm 2007 (có nghĩa là không bao giờ được tham dự bất cứ đại hội PG lớn nhỏ nào nữa.). Tôi có viết, tôi đã bị “gài” để phải gặp gỡ các công an tôn giáo cao cấp này nọ, vì thật lòng tôi rất buồn bực vì chuyện đó. Nhưng đã lỡ, phải lần thôi. Ở Hà Nội, tôi được ông Đại tá VT. tiếp xúc. Rồi sau đó, ông vào Sài Gòn thăm tôi vài lần… (tôi xin mở ngoặc: tên họ, chức vụ của Công an chế độ CSVN khi còn nẳm trong quyền lực chìm, không có gì bảo đảm là chính xác và đúng thật, nên viết tắt là thận trọng!), tôi đã bắn tiếng trước rằng, “Tôi sẽ xin hồi hương về nước, nhân tiện đem mẹ già tôi về để chuẩn bị chết trên quê hương. Tôi đã ‘già’ rồi (thật ra thì chưa già gì lắm!), tôi chỉ muốn được làm công dân về hưu, không muốn mang ơn nhà nước bất cứ điều gì…” Thế mà tôi cũng đâu được yên thân, phải bị “ép, đẩy” phải rơi vào tình huống này khác… để cuối cùng phải bị “chơi khăm” vì chuyện chủ quyền bất động sản. Nhưng, xin thưa với công luận: Không hề có chuyện tôi bị chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” gì hết do từ suy luận thời gian làm một số công việc “khuyển mã” cho giaodiem.com. Với một lý cớ khác, tôi vẫn được họ "trọng đãi", sửa soạn giới thiệu việc làm cho tôi ở một đại học v.v..., họ còn cho người theo sát để nếu tôi cần gì thì họ giúp, nhưng đó cũng là lúc tôi tìm đường “trốn” về Mỹ, khi nhận thức rõ: chế độ này sẽ ngã theo con đường Trung Cộng. Tôi nghĩ, điều đó, có thể lợi ích cho “Hà Nội” nhưng đi ngược lại quyền lợi “Quốc Gia”, trong đó có đại đa số người dân Việt. Thái độ chính trị đó, cũng không phải vì cớ tôi mang mặc cảm định kiến thù ghét người Trung Hoa hay coi thường nền văn hóa vĩ đại của họ. Tôi không chấp nhận, vì tôi biết phân biệt sự khác nhau giữa danh xưng “chế độ Hà Nội” và “đất nước/quốc gia.” Tôi không hề vì sự “bất mãn”, hay bị “vắt chanh bỏ vỏ” nào khi tuyên bố chế độ Việt Nam hiện nay là một chế độ “khốn kiếp” (hay “khốn nạn”) thì cũng như nhau. Một sáng cuối Đông (2007) ở Hà Nội, trong một quán cà phê bên một bờ hồ nhỏ, Đ.tá VT có hỏi tôi về ông Võ Văn Ái, tôi trả lời và “đề nghị”: Nhà nước VN nên mời ông Võ Văn Ái về tham dự Lễ Phật Đản Liên-Hiệp-Quốc Vesak. Tôi giải bày về những điều lợi chung cho toàn thể Phật Giáo và Đất nước sẽ như thế nào. Dù cho cá nhân ông Ái không chấp nhận lời mời đó, hành động công khai (gửi giấy mời) của Ban Tôn giáo cũng là điều hay trước công luận. “Họ” chỉ nghe và không có ý kiến. Có thể là “lẽ tất nhiên”, sau đó không ai làm chuyện "mời" đó, và có thể lời đề nghị của tôi đã được truyền qua tai nhiều người khác –trong số có người “thù ghét” ông Võ Văn Ái và rồi ghét lây cả tôi nữa. Không sao cả. Nếu tôi dám nói những điều mình nghĩ đúng mà, không hề ngại tới những thiên kiến trước một quyền lực chính trị cũng là điều hay. Một dự kiến khác là, giả như Bộ Công an Hà Nội họ lại “khoái/ đắc ý” về lời đề nghị của tôi, liệu ông Võ Văn Ái có “bị” những xúc động như một số Tiến sĩ-Trí thức vừa qua đã bị trong Đại hội Việt kiều tại Hà Nội (dù ông có hay không tham dự) ? Trong khi cầm bút viết những dòng này, tôi vẫn còn thắc mắc, liệu ông Võ Văn Ái gọi “Nhóm Giao Điểm” (trong những năm về trước “có tôi”, và hiện nay là giaodiemonline.com và một bộ phận nối kết của họ) là “bọn Khuyển mã” chỉ vì “họ” là những kẻ “làm tay sai cho Hà Nội” muốn phá đổ Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, để cho Giáo Hội Phật Giáo (của Hà Nội) chủ động lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo cả nước, vì cố bênh vực cho sự tồn tại vô thời hạn của chế độ CS, hay chỉ vì lý do “họ” từng lên tiếng “tố cáo” ông đã nhận tiền của Cơ quan NED và v.v…? Và, nếu trong quá khứ ông Ái đã nhận tiền của NED thì ông có thể xác định người “chủ” để phục vụ trong trường hợp này là ai? Hay, ông chỉ mượn phương tiện của người ngoài để phục vụ cho người “chủ” của mình là Phật Giáo Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam thôi? (Để kết luận) Có thể nào nói được rằng, chỉ vì tinh thần yêu Nước, yêu Đạo (nói chung) –ở một mức độ nào đó, hoàn cảnh nào đó, trong vai trò nào đó -tất cả (cá nhân) chúng ta không khéo đều có thể trở thành nạn nhân của “khuyển mã” ? Tôi không biết trả lời thế nào, nên đành phải mượn tư tưởng của Vương Thông để tự nhủ mình: “Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng” (Tự biết mình là anh, tự thắng được mình là hùng) vậy. Nguyễn Văn Hóa (Facebook name: Hoavan Nguyen) Sunday, December 06, 2009 Vài ghi chú: (*) Ông Hoàng Nguyên Nhuận (qua bút hiệu Hoàng Đông Tà, có thể là một "khuyển mã"! như ông Ái đề cập) có viết. Mời đọc : Ngụy Quân tử Võ Văn Ái: Hoàng Thượng Cỡi Truồng (web Chuyển Luân) (**) Dân Chủ Pháp Trị, Nguyễn Hữu Liêm, Nhà xuất bản Biển Mới 1991, các đoạn trích dẫn: các trang 312, 347.. (***) “Áng” là một đám, một vũng… là một "mớ", một "đống", là cái thực hữu.. của con đường công danh, nên đã có câu dao trong dân gian: “Tang bồng là cái nợ, Đừng làm trai chỉ sợ áng công danh” ột giai cấp tư sản-đại tư sản cán bộ giàu có (nhờ vào ăn cắp, tham nhũng và làm ăn bất chính), nên từ thực tại đó, ta phải có một khẳng định chính trị khác : Họ (CSVN) không phải và không thể là những người yêu nước! Vậy là tôi có thể kết luận : “Hà Nội”, hay họ (Đảng Cộng Sản) không hề đồng nghĩa với “quốc gia”, cho nên tâm cảm về danh dự “quốc gia” của tôi trong việc “chỉ trích” ông Võ Văn Ái không đồng nghĩa với bênh vực “Hà Nội”. Từ một “áng” (***) ý thức chính trị rõ rệt của tác giả Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ trở thành “Nơi Hội nghị Việt kiều: một nỗi bình an” là một diễn biến “ý thức” bất thường, đi ngược với chiều tiến hóa của tư tưởng, hay nói một cách vẽ vời đó là “một sự phá sản của tinh thần triết học.” Liệu ông Hoàng Ngọc Tuấn đã nhìn thấy trước hơn ai hết về ý thức “bất thường” đó của tác giả Nguyễn Hữu Liêm?. Vì lẽ, ông là người viết phản hồi bài viết “Nơi Đại hội Việt kiều: một nỗi bình an” trên talawas blog sớm sũa và “mạnh” nhất (28/11/2009 lúc 12:31 sáng.) Ông Tuấn viết : “Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!” -Hoàng Ngọc-Tuấn (trích talawas-comments theo URL link.) Tôi không làm công việc khai thác nội dung ý kiến phản hồi trên, vịn vào từ nghĩa làm cho “tệ” hơn ý của tác giả, chỉ muốn viện dẫn chữ “thú” để có thể hiểu như là thái độ, việc làm mang tính “Khuyển mã” thôi. Song, từ một “áng” ý thức chính trị như Nguyễn Hữu Liêm đã thủ đắc, tôi không tin ông Liêm là một “khuyển mã” tự nguyện. Chỉ có thể hiểu cách khác là ông Liêm bị ảnh hưởng, thúc đẩy, khuyến cáo… đã đến lúc (như khái niệm "market timing" trong thị trường chứng khoán !) cần phải bộc lộ thái độ chính trị trước dư luận công cộng của một bậc thầy “khuyển mã” từ xa nào đó !?. Do đó, tôi không nghĩ ý kiến phản hồi của ông Hoàng Ngọc Tuấn mang tính cách “mạ lị” mà chỉ là một “phẩn nộ trí thức”, chỉ vì ông nắm được cái “áng” ý thức chính trị của Nguyễn Hữu Liêm quá rõ, qua các tác phẩm của ông Liêm đã viết. * * * Như trong một vài bài viết mới đây, tôi có kể lại về cuộc gặp gỡ với nhà văn Trần Kiêm Đoàn trong một quảng thời gian tôi còn ở trong nước. Trên đoạn đường cùng lái xe từ Sài Gòn ra Huế vào đầu tháng 5/2008, Trần Kiêm Đoàn có hỏi tôi “Ông có giấy mời tham dự Lễ Phật Giáo Vesak ở Hà Nội không?” Tôi đã nói láo với câu trả lời “có chứ!” cho “oai” vì nghe ông Đoàn khoe có nhận giấy mời từ VN gửi qua Mỹ. Còn tôi, tôi biết tôi đã bị công an chế độ “chơi gát” từ bài viết phạm thượng về Hồ Chí Minh sau khi được mời tham dự Đại Hội Phật Giáo toàn quốc cuối năm 2007 (có nghĩa là không bao giờ được tham dự bất cứ đại hội PG lớn nhỏ nào nữa.). Tôi có viết, tôi đã bị “gài” để phải gặp gỡ các công an tôn giáo cao cấp này nọ, vì thật lòng tôi rất buồn bực vì chuyện đó. Nhưng đã lỡ, phải lần thôi. Ở Hà Nội, tôi được ông Đại tá VT. tiếp xúc. Rồi sau đó, ông vào Sài Gòn thăm tôi vài lần… (tôi xin mở ngoặc: tên họ, chức vụ của Công an chế độ CSVN khi còn nẳm trong quyền lực chìm, không có gì bảo đảm là chính xác và đúng thật, nên viết tắt là thận trọng!), tôi đã bắn tiếng trước rằng, “Tôi sẽ xin hồi hương về nước, nhân tiện đem mẹ già tôi về để chuẩn bị chết trên quê hương. Tôi đã ‘già’ rồi (thật ra thì chưa già gì lắm!), tôi chỉ muốn được làm công dân về hưu, không muốn mang ơn nhà nước bất cứ điều gì…” Thế mà tôi cũng đâu được yên thân, phải bị “ép, đẩy” phải rơi vào tình huống này khác… để cuối cùng phải bị “chơi khăm” vì chuyện chủ quyền bất động sản. Nhưng, xin thưa với công luận: Không hề có chuyện tôi bị chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” gì hết do từ suy luận thời gian làm một số công việc “khuyển mã” cho giaodiem.com. Với một lý cớ khác, tôi vẫn được họ "trọng đãi", sửa soạn giới thiệu việc làm cho tôi ở một đại học v.v..., họ còn cho người theo sát để nếu tôi cần gì thì họ giúp, nhưng đó cũng là lúc tôi tìm đường “trốn” về Mỹ, khi nhận thức rõ: chế độ này sẽ ngã theo con đường Trung Cộng. Tôi nghĩ, điều đó, có thể lợi ích cho “Hà Nội” nhưng đi ngược lại quyền lợi “Quốc Gia”, trong đó có đại đa số người dân Việt. Thái độ chính trị đó, cũng không phải vì cớ tôi mang mặc cảm định kiến thù ghét người Trung Hoa hay coi thường nền văn hóa vĩ đại của họ. Tôi không chấp nhận, vì tôi biết phân biệt sự khác nhau giữa danh xưng “chế độ Hà Nội” và “đất nước/quốc gia.” Tôi không hề vì sự “bất mãn”, hay bị “vắt chanh bỏ vỏ” nào khi tuyên bố chế độ Việt Nam hiện nay là một chế độ “khốn kiếp” (hay “khốn nạn”) thì cũng như nhau. Một sáng cuối Đông (2007) ở Hà Nội, trong một quán cà phê bên một bờ hồ nhỏ, Đ.tá VT có hỏi tôi về ông Võ Văn Ái, tôi trả lời và “đề nghị”: Nhà nước VN nên mời ông Võ Văn Ái về tham dự Lễ Phật Đản Liên-Hiệp-Quốc Vesak. Tôi giải bày về những điều lợi chung cho toàn thể Phật Giáo và Đất nước sẽ như thế nào. Dù cho cá nhân ông Ái không chấp nhận lời mời đó, hành động công khai (gửi giấy mời) của Ban Tôn giáo cũng là điều hay trước công luận. “Họ” chỉ nghe và không có ý kiến. Có thể là “lẽ tất nhiên”, sau đó không ai làm chuyện "mời" đó, và có thể lời đề nghị của tôi đã được truyền qua tai nhiều người khác –trong số có người “thù ghét” ông Võ Văn Ái và rồi ghét lây cả tôi nữa. Không sao cả. Nếu tôi dám nói những điều mình nghĩ đúng mà, không hề ngại tới những thiên kiến trước một quyền lực chính trị cũng là điều hay. Một dự kiến khác là, giả như Bộ Công an Hà Nội họ lại “khoái/ đắc ý” về lời đề nghị của tôi, liệu ông Võ Văn Ái có “bị” những xúc động như một số Tiến sĩ-Trí thức vừa qua đã bị trong Đại hội Việt kiều tại Hà Nội (dù ông có hay không tham dự) ? Trong khi cầm bút viết những dòng này, tôi vẫn còn thắc mắc, liệu ông Võ Văn Ái gọi “Nhóm Giao Điểm” (trong những năm về trước “có tôi”, và hiện nay là giaodiemonline.com và một bộ phận nối kết của họ) là “bọn Khuyển mã” chỉ vì “họ” là những kẻ “làm tay sai cho Hà Nội” muốn phá đổ Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, để cho Giáo Hội Phật Giáo (của Hà Nội) chủ động lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo cả nước, vì cố bênh vực cho sự tồn tại vô thời hạn của chế độ CS, hay chỉ vì lý do “họ” từng lên tiếng “tố cáo” ông đã nhận tiền của Cơ quan NED và v.v…? Và, nếu trong quá khứ ông Ái đã nhận tiền của NED thì ông có thể xác định người “chủ” để phục vụ trong trường hợp này là ai? Hay, ông chỉ mượn phương tiện của người ngoài để phục vụ cho người “chủ” của mình là Phật Giáo Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam thôi? (Để kết luận) Có thể nào nói được rằng, chỉ vì tinh thần yêu Nước, yêu Đạo (nói chung) –ở một mức độ nào đó, hoàn cảnh nào đó, trong vai trò nào đó -tất cả (cá nhân) chúng ta không khéo đều có thể trở thành nạn nhân của “khuyển mã” ? Tôi không biết trả lời thế nào, nên đành phải mượn tư tưởng của Vương Thông để tự nhủ mình: “Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng” (Tự biết mình là anh, tự thắng được mình là hùng) vậy. Nguyễn Văn Hóa (Facebook name: Hoavan Nguyen) Sunday, December 06, 2009 Vài ghi chú: (*) Ông Hoàng Nguyên Nhuận (qua bút hiệu Hoàng Đông Tà, có thể là một "khuyển mã"! như ông Ái đề cập) có viết. Mời đọc : Ngụy Quân tử Võ Văn Ái: Hoàng Thượng Cỡi Truồng (web Chuyển Luân) (**) Dân Chủ Pháp Trị, Nguyễn Hữu Liêm, Nhà xuất bản Biển Mới 1991, các đoạn trích dẫn: các trang 312, 347.. (***) “Áng” là một đám, một vũng… là một "mớ", một "đống", là cái thực hữu.. của con đường công danh, nên đã có câu dao trong dân gian: “Tang bồng là cái nợ, Đừng làm trai chỉ sợ áng công danh”

Hoa Blog: Câu chuyện cuối năm

Hoa Blog: Câu chuyện cuối năm:  Lời mở:   Trong những năm đầu mới đến đất Mỹ, tôi đi học tiếp.. Những ngày đêm mùa đông, lạnh và nhớ nhà, nhớ vợ con… và có những đểm thao ...

10/17/22

Bàn về chuyện anh hùng

Tái bút sau gần hai tháng “thời sự mất ngủ” về cuộc chiến ở Ukraine. | Bàn về anh hùng Nguyễn Văn Hóa
Tôi nhận được cuốn sách “biếu” của nhà văn Trần Hoài Thư – Giai phẩm Thư Quán Bản Thảo số 97 về những bài tạp ghi của ký giả Lô Răng (Phan Lạc Phúc) vào ngày 16.3.2022 thì chiến sự giữa Nga – Ukraine đã xảy ra hơn hai tuần. Mãi miết theo dõi về nguyên do xảy ra, diễn biến cuộc chiến làm tôi mất ngủ để đọc, nghe cả ngày lẫn đêm, tôi bỏ quên cuốn sách. Bây giờ thấy đã đủ để nắm hết mọi căn nguyên, đọc khá nhiều những bình luận, phân tích chính trị, quân sự của đủ mọi thành phần: tả, hữu, diều dâu, bồ câu, thân Nga, thân Mỹ, những học giả, ký giả, chính khách xuất thân từ hai khu vực phân cách địa lý kinh tế - chính trị : Nam bán cầu, Bắc bán cầu.

10/09/22

Toàn cầu hóa & Chiến tranh và Hòa bình

| Ý tưởng trong ngày 
- Nguyễn Văn Hóa
Toàn cầu hóa – Globalisation (Anh), Globalization (Mỹ) bắt đầu xuất hiện ở giữa niên kỷ của thế kỷ 20 (1950). Từ ngữ xuất hiện trên Merriam-Webster 1953, song khái niệm ấy vẫn còn mơ hồ vì thiếu một nội dung. Trong âm nhạc, nó là một mộng mơ về nhân loại nhất thống như John Lennon trong ca khúc Imagine, hoặc đến muộn hơn, của Michael Jackson, We are the World. Đến đầu thập niên 1980, nhà tư tưởng về Tương lai học (Futurologist) John Naisbitt khảo sát cụ thể hơn về một mô hình xã hội của thế kỷ 21 trong “Mười đại hướng làm thay đổi đời sống nhân loại” (Megatrends: Ten New Directions Transforming Our Lives). Theo Naisbitt, các đại hướng đó bao gồm: Một xã hội thông tin; một hiện tượng về kỹ thuật cao (bằng sờ mó - High Tech/ High Touch); một nền kinh tế thế giới; những kế hoạch mang tính dài hạn, văn hóa phân quyền – phân nhiệm (Decentralization), một xã hội mang tính tự chủ - tự lực (không cần sự giúp sức của các định chế); một nền Dân chủ tham dự (Participatory Democracy - không cần các đại biểu-đại diện); nhiều Mạng internet kết nối thông tin (Networking); sự di dịch vùng địa lý phát triển để cân bằng nền kinh tế thịnh vượng toàn cầu (ví dụ nền kinh tế Bắc Mỹ chuyển hướng về Nam Mỹ); một xã hội không còn sự chọn lựa nhị nguyên mà trở thành có nhiều sự chọn lựa (Multiple Choice).

Phong trào kháng thuế ở Huế năm 1908

3/20/21

Quan điểm lịch sử mới của Seth Jacobs

Bàn v quan đim lch s mi ca Seth Jacobs khi nhìn li chiến tranh Vit Nam và chính sách đi ngoi ca M.  


















          (b
sung ngày 31.10.2006 –nvh)


Nguyn Văn Hóa


 Seth Jacobs là mt s gia, giáo sư s hc trường Đi hc Boston, bang Massachuttes. Ông còn là người Do Thái (h Jacobs !). Đc bit trong vòng 6 năm qua, ông viết 2 cun s đ cp đến chế đ Đ Nht Cng Hòa ca Tng thng Dim và mi liên h triết lý chính tr đi ngoi ca Hoa Kỳ trong giai đon m đu Chiến Tranh Lnh sau Thế Chiến Th II. Nói ngn gn v ‘triết lý chính tr đi ngoi’ đó là “yếu t tôn giáo.” Tht vy, tôn giáo va là công c, chiêu bài, va là chính sách thc tin áp dng ph quát lên vai trò lãnh đo ca các quc gia đng minh nh bé ca Hoa Kỳ, như mt sc mnh tinh thn kh dng đi đu vi s truyn bá “vô thn” ca hai quc gia đch th là Nga sô và Trung Hoa lc đa. Bài kho lun lch s “khai v” cho 2 cun s nói trên được đăng ti trên tp chí Boston College, Volume 25 chuyên đ: Diplomatic History, S 2, Thu 2001: ‘“Our System Demands the Supreme Being’: America’s Religious Revival and the ‘Diem Experiment.’ 1954-1955” .


Và tiếp theo sau là cun:


1. “Người Mang Phép L ca M Vit Nam: Ngô Đình Dim, Tôn Giáo, Chng Tc và S Can Thip ca M Đông Nam Á, 1950-1957,” Duke University Press, 2004 (America’ s Miracle Man in Vietnam: Ngo Dinh Diem, Religion, Race and U.S. Intervention in Southeast Asia, 1950-1957, Duke University Press, 2004).


Cun th hai, va xut bn trong tháng 9, 2006:


2. “V Quan Li Chiến Tranh Lnh: Ngô Đình Dim và Ngun Gc ca Chiến Tranh M Vit Nam, 1950-1963,” Nhà xb. Rowman & Littlefield, 2006. (Cold War Madarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War In Vietnam, 1950-1963, Rowman & Littlefield, 2006).

Mt bài báo khác trên tp chí Boston College, S Mùa Xuân 2005 (Spring 2005) , gn như thu tóm lun s ca hai cun sách nói trên, “Hoa Kỳ đã h tr v Tng thng tht bi và ‘đo đc gi’ Min Nam Vit Nam như thế nào?” (How America Came to Back South Vietnam’s Despised and Doomed President?). [i]


Featured Post

Cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và...

  Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và ... cuốn Hồi k ý VNMLQHT của Đỗ Mậu             Cuốn Hồi Ký VNMLQHT ấn bản lần đầu tiên xuất hiện vào g...